INTERNET

IP 

Địa chỉ IP là dãy số riêng biệt để nhận diện thiết bị trên internet nhằm mục đích để giao tiếp với các máy tính khác như chuyển/nhận file một cách chính xác có dạng x.x.x.x (x tối đa 2^4 đơn vị chạy từ 0 đến 255) đối với IPv4 và x:x:x:x:x:x:x:x (x tối đa 16^4 đơn vị chạy từ 0 dến 65535) đối với IPv6

Địa chỉ IP được cấu hình bằng tay trên từng thiết bị để có thể truy cập Internet nhưng do nhu cầu thuận tiện nên các hầu hết địa chỉ IP của thiết bị sẽ được cấu hình tự động nhờ nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP-Internet service provider) thông qua phần mềm được gọi là DHCP (dynamic host configuration protocol)

Với số lượng 32 bit cho mỗi IPv4 tức có 8 bit cho mỗi octet (x) thì số địa chỉ IP có thể có là 2^32=4.294.967.296. thế nhưng với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của thiết bị điện tử có thể kết nối internet hiện nay, IPv4 không thể đáp ứng được nhu cầu nên có 2 giải pháp sau để khắc phục sự thiếu hụt này: sử dụng địa chỉ IPv4 private hay địa chỉ IPv6

         IPv6: sự ra đời của phiên bản mới của IP đã làm tăng thêm số lượng IP có thể có (3.4028237e+38) và cũng làm tăng độ bảo mật

         IPv4 private: được sinh ra nhằm mục đích giảm số lượng địa chỉ IP dần cạn kiệt. IP private là giải pháp đặt tất cả máy trong một nhà, công ty,... nằm trên một đường mạng cố định, khi cần truy cập Internet, Router sẽ sử dụng cơ chế NAT để chuyển địa chỉ private thành địa chỉ public. Điều đó đồng nghĩa với việc chỉ cần 1 địa chỉ IP public là có thể thay thế cho số lượng lớn địa chỉ IP

Nhưng thực tế ta lại có thể giao tiếp với máy tính khác mà không cần nhập địa chỉ IP như khi truy cập vào server của facebook.com, google.com,...Vậy tại sao ta có thể làm như vậy?

Việc truy cập vào một website về cơ bản là máy tính của ta giao tiếp với máy tính khác. Vì nhớ địa chỉ IP của máy khác như 192.168.11.1 sẽ khó nhớ hơn địa chỉ website như google.com nên các nhà cung cấp dịch vụ internet tạo ra dịch vụ có tên là DNS (domain name service).

DNS có chức năng phân giải địa chỉ website thành địa chỉ IP sau đó gửi về cho máy tính địa chỉ IP của website mình muốn truy cập. Dựa vào địa chỉ IP mà IPS cung cấp, 2 máy tính có thể giao tiếp với nhau.


DATA TRANSMISSION

Khi máy tính ta truy cập internet và tải về một bức ảnh (lấy bức ảnh hình con mèo làm ví dụ) từ máy khác về, ta sẽ gửi yêu cầu (như là"GET cat.jpg) được đóng gói trong bức thư (evelop), sau đó gửi đến máy chủ có bức ảnh đó thông qua địa chỉ IP. Trong khi tải về, bức ảnh sẽ được chia ra làm nhiều phần mỗi phần được gọi là fragments để gửi đi vì giới hạn băng thông không cho phép gửi lượng dữ liệu lớn như vậy trong cùng 1 thời điểm.

Thế nhưng khi nhận được những fragments đó thì máy tính của ta nhận thấy rằng số fragments nhận được không bằng số fragments ghi trên bức thư hay không thể biết được thứ tự của các fragments như thế nào để ghép lại cho hoàn chỉnh nên TCP ra đời.

Mỗi website cung cấp nhiều dịch vụ như ssh, http, email, stream,..Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là khi tải bức ảnh trên website nào đó, làm thế nào để máy tính lưu trữ (server) bên kia biết là cần lấy bức ảnh ở dịch vụ http trang web hay ở dịch vụ email?

Khi gửi một bức thư đến một trang web nào đó ngoài địa chỉ IP của bản thân, IP của server cần truy cập, nội dung yêu cầu trang web đó trả về thì số cổng sẽ được thêm vào sau địa chỉ IP của server cần truy cập được cách nhau bởi dấu hai chấm : ví dụ như sau 213.165.21.31 : 80
***Số cổng đã được tiêu chuẩn hóa như http 80, https 443, SMTP 25

PROTOCOL

Với những thứ như IP, TCP,... được gọi là giao thức-cái mà cả 2 bên đều sử dụng để giao tiếp với nhau
nhưgiao thức IP để máy tính "nói chuyện" với nhau, TCP để kiểm tra và yêu cầu gửi lại gói tin khi bị mất, UDP để đáp ứng nhu cầu xử lý gói tin nhanh nhưng không yêu cầu gởi gói tin lại khi mất-được ứng dụng với công nghệ real-time như gọi điện video, xem livestream,...


Comments